Gốc > TIỂU SỬ DANH NHÂN >

Thánh Quát (1809 – 1855)

 

Cao Bá Quát (chữ Hán: 高伯适; 1809 – 1855) là một nhà thơ Việt Nam. Ông có tên tự là Chu Thần, hiệu là Cúc Đường, biệt hiệu là Mẫn Hiên. Thơ văn của ông được vua Tự Đức, một người giỏi văn thơ, đã phải ngợi khen: Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán (Văn như Nguyễn Văn Siêu và Cao Bá Quát, đời Tiền Hán không có ai bằng). Cao Bá Quát là bạn thơ văn với Nguyễn Văn Siêu, tạo nên cặp nhà thơ Thần Siêu Thánh Quát.

I. Tiểu sử

Cao Bá Quát sinh ra, trong một cặp song sinh, ở một gia đình khoa bảng. Ông nổi tiếng thông minh, học giỏi ngay từ nhỏ. Người anh em song sinh với ông là Cao Bá Đạt cũng là cha của một nhà thơ sau này, Cao Bá Nhạ. Cha ông là Cao Tửu Chiếu là một nhà nho hay chữ.

Ông sinh năm 1809 tại làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh, nay là thôn Phú Thị, xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Có tài liệu cho rằng quê gố của ông ở xã Hải Yến, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hoá.

Năm 1832 ông thi hương đỗ Á Nguyên, nhưng thi hội mãi vẫn không đỗ. Nhưng ông không đỗ không phải vì ông kém tài mà là vì bị quan trường đánh hỏng. Năm 1841 ông được bổ giữ chứcHành tẩu bộ lễ. Tháng 8 năm 1841 ông được cử làm sơ khảo trường thi Thừa Thiên, thấy một số bài thi hay nhưng phạm húy, ông cùng bạn chữa giúp. Việc bị phát giác, tội ông đáng chém nhưng sau được xét lại, chỉ cách chức và tù 3 năm. Năm 1847 ông được mời làm ở Viện hàn lâm, sưu tầm văn thơ. Cảm kích trước thái độ ân cần giúp đỡ của hai vị hoàng thân là Tùng Thiện Vương và Tuy Lý Vương, ông gia nhập Mạc Vân Thi xã (do hai hoàng thân sáng lập).

Do tính khinh miệt triều đinh và vua quan, Cao Bá Quát bị đầy về làm giáo học ở vùng quê Quốc Oai và làm Quốc sư cho Lê Duy Cự, dòng dõi nhà Lê, nổi lên chống triều Nguyễn năm 1854. Lúc đầu quân khởi nghĩa giành được một số thắng lợi ở Sơn Tây, Nam Định, nhưng rồi bị quân triều đình đánh tan. Theo Thư mục chính biên thì ông bị bắn chết trong một trận đánh, nhưng có tài liệu cho rằng ông bị bắt giải về triều và bị chém đầu. Vua Tự Đức ra lệnh tru di tam tộc dòng họ Cao.

II. Tác phẩm

Sau khi họ Cao bị tru di tam tộc, các tác phẩm của Cao Bá Quát bị cấm lưu hành và bị thu hồi đốt. Tuy vậy đến nay vẫn còn các tập:

  • Cao Bá Quát thi tập
  • Cao Chu thần di cảo
  • Cao Chu thần thi tập
  • Mẫn Hiên thi tập
  • Thơ, văn được chép rải rác trong các sưu tập thơ văn chữ Hán, chữ Nôm.

Nội dung các tác phẩm chú yếu phản ánh thực trạng xã hội đương thời và mong muốn thay đổi xã hội.

III. Giai thoại

 

1. Hai câu đối

Hai câu đối sau tương truyền là của Cao Bá Quát:

經 世 有 才 皆 百 鍊
讀 書 無 字 不 千 金

Phiên âm Hán-Việt:

Kinh thế hữu tài giai bách luyện
Độc thư vô tự bất thiên kim
十 載 論 交 求 古 劍
一 生 低 首 拜 槑 ( 梅 ) 花

Phiên âm Hán-Việt:

Thập tải luân giao cầu cổ kiếm
Nhất sinh đê thủ bái mai hoa

Vào năm Tân Hợi đời vua Tự Ðức thứ tư (1851)Cao Bá Quát bị đẩy khỏi kinh đưa ra Bắc, cho làm quan Huấn Đạo ở phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây. Trước hoàn cảnh bị trù dập, truất giáng Cao Bá Quát đã làm đôi liễn đối treo trước cửa:

Nhà trống ba gian
Một thầy, một cô, một chó cái.
Học trò dăm đứa
Nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi.

 

2. Chữa câu đối của vua

Vua Tự Đức nghĩ được hai câu đối sau:

Tử năng thừa phụ nghiệp
Thần khả báo quân ân
子能乘父業
臣可報君恩
(tạm dịch nghĩa: Con phải nối nghiệp cha, Bầy tôi phải báo đền ơn vua)

Vua lấy làm đắc ý với hai câu đối này nên sai viết treo ở điện Cần Chánh và khoe với bá quan. Các quan trông thấy đều nức nở tán thưởng. Riêng Cao Bá Quát khi đọc xong cũng gật gù to tiếng khen ”Tối hảo! Tối hảo!” (Rất tuyệt! rất tuyệt!), xong quay ra chỗ khác lẩm bẩm “(nhưng mà) cang thường điên đảo!"

Chuyện tới tai vua Tự Đức, vua giận lắm đòi vào hỏi nguyên do. Cao Bá Quát liền giải thích: "Ở câu đầu chữ tử đứng trên chữ phụ, vậy là con trên cha, còn ở câu kế chữ thần đứng trên chữ quân, vậy là tôi trên vua. Hơn nữa, hai chữ phụ, tử lại viết trước hai chữ quân, thần cũng đi ngược tôn ti, trật tự. Như thế, cang thường không điên đảo là gì?" (câu đối được viết theo thứ tự từ trên xuống dưới và từ phải sang trái).

Cao Bá Quát giải thích đúng lí nên vua không bắt tội được. Vua bảo chữa, Cao Bá Quát liền đọc:

Quân ân, thần khả báo
Phụ nghiệp, tử năng thừa
君恩臣可報
父業子能乘

Chỉ đảo ngược thứ tự hai câu và vị trí của chữ trong các câu, Cao Bá Quát đã chỉnh hai câu đối của vua theo đúng trật tự trong cương thường. Vua phải chịu rằng chữa như vậy là hay, cương thường được đảm bảo mà ý tứ của vua cũng được toàn vẹn.

 

3. Một câu đối hai hoàn cảnh

Tương truyền trong một dịp Tết có hai người đến xin Cao Bá Quát câu đối về treo tại nhà: anh đóng quan tài đến trước, chị bụng chửa sắp sinh đến sau. Ông cầm bút viết câu đối cho anh đóng quan tài:

Thiên thiêm tuế nguyệt, nhân thiêm THỌ
Xuân mãn càn khôn, phúc mãn ĐƯỜNG

Nghĩa là:

Trời thêm năm tháng, người thêm thọ
Xuân đầy vũ trụ, phúc đầy nhà

Câu đối khéo ở chỗ người xưa quen dùng chữ "cỗ Thọ Đường" để chỉ cỗ quan tài.

Đến lượt chị bụng chửa, ông cũng viết hai câu như trên, chỉ bớt đi chữ cuối, vẫn hợp với cảnh của chị:

Thiên thiêm tuế nguyệt, nhân thiêm
Xuân mãn càn khôn, phúc mãn

Nghĩa là:

Trời thêm năm tháng, người thêm
Xuân đầy vũ trụ, phúc đầy

 

4. Bịa thơ tài hơn vua

Tự Đức là ông vua hay chữ và hay khoe thơ với quần thần[1]. Một hôm tan buổi chầu, Tự Đức nói với bá quan:

Đêm qua trẫm nằm mơ làm được hai câu thơ thật kỳ lạ, để trẫm đọc cho các khanh nghe!

Rồi Tự Đức đọc luôn:

Viên trung oanh chuyển "khề khà" ngữ
Dã ngoại đào hoa "lấm tấm" khai

Đây là lối thơ vừa Hán vừa Nôm, các quan đều lấy làm lạ. Cao Bá Quát lúc bấy giờ cũng có mặt, thản nhiên tâu rằng:

Tưởng gì chứ hai câu ấy thì từ hồi còn để chỏm đi học, thần đã được nghe rồi! Thần được nghe cả tám câu kia, nếu bệ hạ cho phép, thần xin đọc lại tất cả.

Tự Đức đang cao hứng về mấy câu thơ vừa Hán dở Nôm độc đáo, nghe Cao Bá Quát nói rất bất ngờ, vì rõ ràng hai câu thơ đó chính vua nghĩ ra. Tự Đức bảo ông đọc cho nghe cả bài thơ, nếu không đọc được thì sẽ trị cái tội khi quân.

Ông suy nghĩ một lát như để nhớ lại một bài thơ lâu ngày không nhìn đến, rồi cất giọng sang sảng ngâm rằng:

Bảo mã tây phương huếch hoác lai,
Huênh hoang nhân tự thác đề hồi.
Viên trung oanh chuyển khề khà ngữ,
Dã ngoại đào hoa lấm tấm khai.
Xuân nhật bất văn sương lộp bộp,
Thu thiên chỉ kiến vũ bài nhài.
Khù khờ thi tứ đa nhân thức,
Khệnh khạng tương lai vấn tú tài.

Nghĩa là:

Ngựa báu từ phía tây huếch hoác lại,
Người huênh hoang nhờ cậy dìu về.
Trong vườn oanh hót giọng khề khà.
Ngoài đồng hoa đào nở lấm tấm.
Ngày xuân chẳng thấy sương lộp bộp.
Tiết thu chỉ thấy mưa bài nhài.
Tứ thơ khù khờ nhiều người biết,
Khệnh khạng còn mang hỏi tú tài.

Bài thơ vừa đọc xong, các quan nhìn nhau kinh ngạc, còn Tự Đức thì biết đích là Cao Bá Quát chơi xỏ mình, nhưng cũng rất sửng sốt và hết sức thán phục. Vua sai lấy chè và quế ban cho Quát và bắt Quát phải thú thật là đã bịa thêm sáu câu.

 -------------------------------

Nguồn internet ( Tư liệu mang tính chất tham khảo )

 


Nhắn tin cho tác giả
Bùi Xuân Quang @ 21:16 12/10/2014
Số lượt xem: 493
Số lượt thích: 2 người (Nguyễn Quang Huy, Nguyễn Kim Hoa)
 
Gửi ý kiến

TIN TỨC CẬP NHẬT QUA TẤT CẢ CÁC BÁO

:: Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.

:: Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây.

:: Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.